Trung Quốc sản xuất nhiều loại tinh dầu ở quy mô công nghiệp, và là nguồn chính của nhiều phân tử tự nhiên dùng trong hương liệu: citral từ màng tang, linalool từ cây long não kiểu linalool, cinnamaldehyde từ quế, anethole từ hồi, cedrol từ tuyết tùng.
Vùng cây hương chủ yếu nằm ở phía nam và tây nam. Quảng Tây trồng quế và hồi, giáp với vùng quế hồi phía bắc Việt Nam. Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam trồng long não; Tứ Xuyên, Quý Châu cho tuyết tùng. Hai nguyên liệu hoa đáng chú ý là mộc tê ở Quế Lâm và hồng Khổ Thủy ở Cam Túc.
Nhiều dầu Trung Quốc có tiêu chuẩn ISO riêng ghi rõ "kiểu Trung Quốc", ví dụ dầu quế (ISO 3216), dầu hồi (ISO 11016) và dầu hồng Khổ Thủy (ISO 25157).
China produces many essential oils at industrial scale and is the main source of several natural molecules used in flavour and fragrance: citral from may chang, linalool from the linalool type of camphor tree, cinnamaldehyde from cassia, anethole from star anise, cedrol from cedarwood.
Aromatic crops lie mainly in the south and south west. Guangxi grows cassia and star anise, bordering the cassia and star anise zone of northern Vietnam. Jiangxi, Fujian and Hunan grow camphor; Sichuan and Guizhou supply cedarwood. Two notable flower materials are osmanthus around Guilin and Kushui rose in Gansu.
Several Chinese oils have their own ISO standards marked "Chinese type", for example cassia oil (ISO 3216), star anise oil (ISO 11016) and Kushui rose oil (ISO 25157).
| Long não Giang Tây Jiangxi camphor | > 10.000 ha; ngành dầu long não > 10 tỷ NDT/năm |
| Hồng Khổ Thủy Kushui rose | > 100.000 mẫu Trung Quốc; > 25.800 tấn hoa tươi |
| Dầu hồng Khổ Thủy Kushui rose oil | ~600–700 kg/năm |
| Tiêu chuẩn ISO ISO standards | 3216 (quế) · 11016 (hồi) · 25157 (hồng Khổ Thủy) |
| Vùng chính Main regions | Quảng Tây · Giang Tây · Hồ Nam · Vân Nam · Tứ Xuyên · Cam Túc |
| Loài liên quan được bảo vệ Protected relative | Gỗ hồng Aniba rosaeodora (CITES Phụ lục II); dầu ho là nguồn thay thế |
Quế Trung Quốc (Cinnamomum cassia, danh pháp hiện hành C. aromaticum) trồng chủ yếu ở Quảng Tây và Quảng Đông. Như ở Việt Nam, dầu quế thương mại được cất phần lớn từ cành và lá, không phải từ vỏ. Thành phần chính là trans-cinnamaldehyde; ISO 3216 quy định đặc tính của dầu quế kiểu Trung Quốc.
Hồi (Illicium verum) cần khí hậu mát và ẩm của vùng đồi núi Quảng Tây; tỉnh này là vùng hồi lớn nhất Trung Quốc, và Trung Quốc là nước sản xuất hồi lớn nhất thế giới, trước Việt Nam. Dầu cất từ quả và lá, chứa trên 80 phần trăm trans-anethole ở các mẫu Quảng Tây. ISO 11016 là tiêu chuẩn cho dầu hồi kiểu Trung Quốc.
Hồi Nhật (Illicium anisatum) có độc và khó phân biệt với hồi thật khi đã khô. Nguồn gốc rõ ràng là điều kiện đầu tiên khi mua quả hoặc dầu.
Xem thêm trang Việt Nam về quế Văn Yên và hồi Lạng Sơn.
Chinese cassia (Cinnamomum cassia, currently C. aromaticum) is grown mainly in Guangxi and Guangdong. As in Vietnam, commercial cassia oil is distilled mostly from twigs and leaves rather than bark. Its main constituent is trans-cinnamaldehyde; ISO 3216 sets the characteristics of Chinese-type cassia oil.
Star anise (Illicium verum) needs the cool, humid hills of Guangxi, China's largest star anise province; China is the world's largest producer, ahead of Vietnam. The oil is distilled from fruit and leaves and holds over 80% trans-anethole in Guangxi samples. ISO 11016 covers Chinese-type star anise oil.
Japanese star anise (Illicium anisatum) is toxic and hard to tell from true star anise once dried. Clear provenance comes first when buying fruit or oil.
See the Vietnam page for Văn Yên cassia and Lạng Sơn star anise.
Màng tang (Litsea cubeba) là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ mọc hoang và được trồng ở vùng đồi phía nam Trung Quốc: Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Giang Tây, Quảng Tây. Dầu cất từ quả tươi, thu vào mùa hè.
Thành phần chính là citral (hỗn hợp geranial và neral), thường chiếm phần lớn dầu, thay đổi theo vùng. Trung Quốc là nguồn chính của dầu màng tang thế giới, và dầu này là nguồn lớn nhất của citral tự nhiên. Citral tách từ màng tang được dùng làm nguyên liệu cho ionone và vitamin A trong công nghiệp.
Citral nằm trong danh sách chất gây dị ứng phải ghi nhãn của EU và có giới hạn IFRA do nguy cơ mẫn cảm da.
May chang (Litsea cubeba) is a shrub or small tree, wild and cultivated in the southern Chinese hills: Yunnan, Guizhou, Hunan, Fujian, Sichuan, Jiangxi and Guangxi. The oil is distilled from fresh fruit, picked in summer.
Its main constituent is citral (a mix of geranial and neral), usually most of the oil, varying with provenance. China is the main world source of may chang oil, which is in turn the largest source of natural citral. Citral isolated from may chang is used as a starting material for ionones and vitamin A.
Citral is on the EU list of labelled fragrance allergens and carries an IFRA limit for skin sensitisation.
Cây long não (Cinnamomum camphora) ở Trung Quốc có nhiều kiểu hóa học. Một khảo sát năm 2023 trên 974 cây thuộc 35 quần thể ở 13 tỉnh xác định sáu kiểu chính: eucalyptol (1,8-cineole), linalool, camphor, nerolidol, selinene và kiểu hỗn hợp, cùng vài kiểu hiếm giàu methyleugenol hoặc borneol. Dầu cất chủ yếu từ lá và cành.
Kiểu linalool cho dầu ho (lá ho, gỗ ho), là nguồn linalool tự nhiên và là nguyên liệu thay cho dầu gỗ hồng Brazil (Aniba rosaeodora), loài đã vào Phụ lục II CITES. Giang Tây có hơn 10.000 hecta long não trồng, và ngành dầu long não Trung Quốc có giá trị hơn 10 tỷ nhân dân tệ mỗi năm.
Kiểu cineole của cùng loài này, trồng ở Madagascar, là ravintsara. Tên gọi long não vì vậy chưa đủ để biết dầu có mùi gì; cần ghi kiểu hóa học.
Camphor có giới hạn trong mỹ phẩm ở một số thị trường và trong IFRA; dầu kiểu camphor không dùng thay dầu kiểu linalool được.
The camphor tree (Cinnamomum camphora) in China has many chemotypes. A 2023 survey of 974 trees from 35 populations in 13 provinces identified six main types: eucalyptol (1,8-cineole), linalool, camphor, nerolidol, selinene and mixed, plus a few rare types rich in methyleugenol or borneol. Oil is distilled mainly from leaves and twigs.
The linalool type gives ho oil (ho leaf, ho wood), a source of natural linalool and a replacement for Brazilian rosewood oil (Aniba rosaeodora), a species now listed in CITES Appendix II. Jiangxi alone has over 10,000 hectares of planted camphor, and China's camphor oil industry is worth more than 10 billion yuan a year.
The cineole type of the same species, grown in Madagascar, is ravintsara. The name camphor tree is therefore not enough to know how an oil smells; the chemotype must be stated.
Camphor is restricted in cosmetics in some markets and by IFRA; camphor-type oil cannot stand in for the linalool type.
Dầu tuyết tùng Trung Quốc về danh nghĩa được cất từ gỗ bách rủ Cupressus funebris, mọc ở phía đông Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây và tây Hồ Bắc. Loài này không phải tuyết tùng thật (Cedrus) mà thuộc họ Hoàng đàn.
Thành phần các lô thương mại thay đổi rất rộng: alpha-cedrene 4 đến 44 phần trăm, thujopsene 2 đến 37 phần trăm, cedrol 2 đến 23 phần trăm. Một nghiên cứu năm 2008 phát hiện beta-biotol trong nhiều lô, dấu hiệu cho thấy gỗ trắc bách diệp (Platycladus orientalis) cũng được cất chung, do nguồn cây C. funebris trưởng thành đã ít.
Chinese cedarwood oil is nominally distilled from the wood of the Chinese weeping cypress, Cupressus funebris, which grows in eastern Sichuan, Chongqing, Guizhou, Hunan, Jiangxi and western Hubei. It is not a true cedar (Cedrus) but a member of the cypress family.
Commercial lots vary widely: alpha-cedrene 4 to 44%, thujopsene 2 to 37%, cedrol 2 to 23%. A 2008 study found beta-biotol in several lots, a sign that oriental arborvitae wood (Platycladus orientalis) was distilled as well, since mature C. funebris has become scarce.
Mộc tê (Osmanthus fragrans) nở trong một khoảng ngắn vào tháng 9 đến tháng 10 ở miền nam Trung Quốc, từ Quế Lâm (Quảng Tây) đến Tô Châu, Hàng Châu và Thành Đô. Hoa rất nhỏ; người thu rung cây cho hoa rụng xuống tấm trải. Hoa thường được ngâm nước muối để giữ, rồi chiết bằng dung môi thành concrete và absolute. Absolute mang mùi mơ và da thuộc nhẹ, do các lactone, ionone và linalool oxide.
Hồng Khổ Thủy là giống lai tự nhiên Rosa sertata × R. rugosa, trồng ở trấn Khổ Thủy, huyện Vĩnh Đăng, Lan Châu (Cam Túc), ở độ cao trên 1.700 mét. Vĩnh Đăng có hơn 100.000 mẫu Trung Quốc, thu hơn 25.800 tấn hoa tươi mỗi năm; hoa nở vào tháng 5. Dầu hồng Khổ Thủy được sản xuất khoảng 600 đến 700 kg mỗi năm.
Dầu hồng Khổ Thủy có nhiều citronellol hơn dầu hồng Damask Bulgaria: khoảng 40 đến 47 phần trăm citronellol, 9 đến 11 phần trăm geraniol. Năm 2013, ISO ban hành tiêu chuẩn riêng ISO 25157 cho loại dầu này.
Một số dầu hồng Damask trồng ở Trung Quốc có citronellol 37 đến 39 phần trăm, cao hơn dải Bulgaria, và không đạt ISO 9842 dù cùng loài.
Osmanthus (Osmanthus fragrans) blooms for a short window in September to October across southern China, from Guilin (Guangxi) to Suzhou, Hangzhou and Chengdu. The flowers are tiny; pickers shake the trees so they fall onto sheets. Flowers are often held in brine, then solvent-extracted into concrete and absolute. The absolute smells of apricot with a light leathery note, from lactones, ionones and linalool oxides.
Kushui rose is a natural hybrid, Rosa sertata × R. rugosa, grown in Kushui town, Yongdeng county, Lanzhou (Gansu), above 1,700 metres. Yongdeng has more than 100,000 mu and harvests over 25,800 tonnes of fresh flowers a year; the roses bloom in May. Kushui rose oil output is about 600 to 700 kg a year.
Kushui rose oil holds more citronellol than Bulgarian damask rose oil: about 40 to 47% citronellol and 9 to 11% geraniol. In 2013 ISO issued a separate standard, ISO 25157, for this oil.
Some damask rose oils grown in China hold 37 to 39% citronellol, above the Bulgarian range, and do not meet ISO 9842 despite being the same species.
| Cây Plant | Tên khoa học Botanical | Vùng Area | Mùa Season | Phần dùng Part | Hoạt chất Marker |
|---|---|---|---|---|---|
| Quế Cassia | Cinnamomum cassia | Quảng Tây, Quảng Đông | Theo đợt bóc vỏ và tỉa cành | Cành, lá; vỏ | trans-cinnamaldehyde |
| Hồi Star anise | Illicium verum | Quảng Tây | Vụ chính mùa thu (chưa xác minh tháng) | Quả, lá | trans-anethole >80% |
| Màng tang May chang | Litsea cubeba | Vân Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Tây | Mùa hè | Quả tươi | citral |
| Long não (kiểu linalool) Ho (linalool type) | Cinnamomum camphora ct. linalool | Giang Tây, Phúc Kiến | Cắt lá nhiều lứa | Lá, cành | linalool |
| Tuyết tùng Trung Quốc Chinese cedarwood | Cupressus funebris | Tứ Xuyên, Quý Châu, Trùng Khánh | Quanh năm | Gỗ, mùn cưa | alpha-cedrene, thujopsene, cedrol |
| Mộc tê Osmanthus | Osmanthus fragrans | Quế Lâm, Hàng Châu, Tô Châu | Tháng 9–10 | Hoa | lactone, ionone, linalool oxide |
| Hồng Khổ Thủy Kushui rose | Rosa sertata × R. rugosa | Vĩnh Đăng, Cam Túc | Tháng 5 (có thể sang đầu tháng 6) | Hoa | citronellol 40–47% |
| Quế cassia và quế Ceylon · Cassia · Cinnamon bark | Cinnamaldehyde, coumarin |
| Hồi và tiểu hồi · Anise star · Anise | Anethole, lưu ý hồi Nhật |
| Màng tang và sả chanh · May chang · Lemongrass | Hai nguồn citral |
| Long não, dầu ho và gỗ hồng · Ho leaf linalool ct · Ho leaf camphor ct · Ho leaf cineole ct · Camphor white · Rosewood | Kiểu hóa học; linalool thay cho gỗ hồng |
| Các loại dầu tuyết tùng · Cedarwood chinese · Cedarwood atlas · Cedarwood virginian · Cedarwood texan | Cedrol, thujopsene, himachalene |
| Mộc tê và hồng · Osmanthus · Rose damask | Absolute mộc tê; so sánh dầu hồng |
| Hoạt chất · Cinnamaldehyde · Anethole e · Citral · Linalool · Camphor · Cedrol alpha · Citronellol beta | Cinnamaldehyde · anethole · citral · linalool · camphor · cedrol · citronellol |
Cập nhật 09/2026. Số liệu lấy theo năm ghi trong nguồn.
↑ Mục lục · Top