Indonesia là nguồn chính của dầu hoắc hương thế giới và là nước sản xuất đinh hương lớn nhất. Năm 2025, xuất khẩu tinh dầu (mã HS 3301) đạt 348,7 triệu USD, trong đó dầu hoắc hương chiếm 173,4 triệu USD.
Quần đảo Maluku là quê gốc của đinh hương và nhục đậu khấu, hai loại gia vị đã đưa thương nhân châu Âu đến vùng này từ thế kỷ 16. Ngày nay cây hương trải rộng: hoắc hương ở Sulawesi và Aceh, hương bài ở Garut (Tây Java), sả Java và cananga ở Java.
Phần lớn dầu Indonesia được cất ở nồi nhỏ của nông hộ, sau đó gom qua thương lái. Nhà nước quản lý chất lượng bằng tiêu chuẩn quốc gia SNI cho từng loại dầu.
Indonesia is the main source of the world's patchouli oil and the largest producer of clove. In 2025 its essential oil exports (HS 3301) reached 348.7 million USD, of which patchouli oil accounted for 173.4 million USD.
The Maluku islands are the original home of clove and nutmeg, the two spices that brought European traders to the region from the 16th century. Today aromatic crops are spread widely: patchouli in Sulawesi and Aceh, vetiver in Garut (West Java), citronella and cananga on Java.
Most Indonesian oil is distilled in small farm stills and then collected through traders. Quality is governed by national SNI standards for each oil.
| Xuất khẩu tinh dầu 2025 Essential oil exports 2025 | 348,7 triệu USD (HS 3301) |
| Dầu hoắc hương 2025 Patchouli oil 2025 | 173,4 triệu USD, +22,7% so với 2024 |
| Đinh hương 2023 Clove 2023 | 135.178 tấn, ~73% thế giới |
| Hương bài Garut Garut vetiver | ~2.500 ha · 60–75 tấn dầu/năm |
| Chỉ dẫn địa lý GIs | Nilam Aceh (2013) · Minyak Akar Wangi Garut (2026) |
| Tiêu chuẩn Standards | SNI 06-2385-2006 (hoắc hương) · SNI 06-3953-1995 (sả Java) |
Hoắc hương (Pogostemon cablin) là cây bụi thân thảo họ Hoa môi. Dầu được cất từ lá đã phơi héo; lá tươi cho rất ít mùi, nên khâu phơi và ủ nhẹ trước khi cất ảnh hưởng lớn đến chất lượng. Cây cho lứa cắt đầu sau khoảng sáu tháng, sau đó cắt tiếp theo chu kỳ vài tháng, nên dầu có quanh năm.
Aceh ở đầu bắc Sumatra là vùng hoắc hương lâu đời; Nilam Aceh được cấp chỉ dẫn địa lý năm 2013. Từ những năm 2000, trung tâm sản xuất dịch về Sulawesi, đặc biệt huyện Kolaka ở Đông Nam Sulawesi, nơi hoắc hương được trồng xen hoặc trồng thuần.
Tiêu chuẩn SNI 06-2385-2006 yêu cầu dầu hoắc hương chứa tối thiểu 30 phần trăm patchouli alcohol. Phần còn lại là các sesquiterpene như alpha-bulnesene, alpha-guaiene và seychellene. Dầu hoắc hương là một trong số ít tinh dầu thơm hơn khi để lâu; dầu mới cất có nốt xanh, dầu cũ tròn và sẫm hơn.
Dầu hoắc hương hay bị pha dầu gurjun hoặc dầu gỗ tuyết tùng để hạ giá; kiểm tra bằng sắc ký khí là cách chắc chắn nhất.
Patchouli (Pogostemon cablin) is a herbaceous shrub of the mint family. The oil is distilled from wilted, dried leaves; fresh leaves give little scent, so drying and light fermentation before distillation strongly affect quality. The first cut comes about six months after planting and later cuts follow every few months, so oil is available all year.
Aceh at the northern tip of Sumatra is the long-standing patchouli region; Nilam Aceh received a geographical indication in 2013. Since the 2000s the centre of production has shifted to Sulawesi, especially Kolaka district in South East Sulawesi, where patchouli is grown as an intercrop or in pure stands.
Standard SNI 06-2385-2006 requires patchouli oil to contain at least 30% patchouli alcohol. The rest is sesquiterpenes such as alpha-bulnesene, alpha-guaiene and seychellene. Patchouli is one of the few oils that improves with age; fresh oil has a green edge, aged oil is rounder and darker.
Patchouli oil is often cut with gurjun balsam or cedarwood oil to lower cost; gas chromatography is the reliable check.
Theo FAO, năm 2023 Indonesia sản xuất 135.178 tấn đinh hương, khoảng 73 phần trăm sản lượng thế giới. Vùng trồng lớn nhất nằm ở phía đông: Trung Sulawesi, Bắc Sulawesi, Nam Sulawesi và Maluku, mỗi tỉnh vài chục nghìn hecta.
Phần lớn nụ được tiêu thụ trong nước để làm thuốc lá kretek, nên Indonesia xuất khẩu nụ ít hơn Madagascar. Mùa hái chính khoảng tháng 6 đến tháng 9, có vụ phụ tùy lượng mưa từng đảo. Dầu lá đinh hương Indonesia giàu eugenol.
According to FAO, Indonesia produced 135,178 tonnes of clove in 2023, about 73% of world output. The largest areas lie in the east: Central, North and South Sulawesi and Maluku, each with tens of thousands of hectares.
Most buds are used at home for kretek cigarettes, so Indonesia exports fewer buds than Madagascar. The main picking season runs roughly June to September, with secondary crops depending on rainfall on each island. Indonesian clove leaf oil is rich in eugenol.
Nhục đậu khấu (Myristica fragrans) có nguồn gốc ở quần đảo Banda thuộc Maluku. Cây cho hai gia vị: hạt là nhục đậu khấu, lớp áo hạt màu đỏ là mace. Dầu East Indian được cất từ hạt, thường là hạt nhỏ hoặc hạt vỡ không đạt chuẩn bán gia vị.
Dầu nhục đậu khấu Indonesia chủ yếu là monoterpene: sabinene 6 đến 36 phần trăm, alpha-pinene 13 đến 23 phần trăm, beta-pinene 8 đến 15 phần trăm theo một nghiên cứu nhiều mẫu. Các phenylpropanoid myristicin, elemicin và safrole có mặt ở mức thấp hơn nhưng thay đổi mạnh theo mẫu.
Hạt nhục đậu khấu dễ nhiễm nấm mốc khi phơi và trữ trong điều kiện ẩm. Nghiên cứu năm 2025 cho thấy 17 phần trăm mẫu từ Bắc Maluku vượt mức aflatoxin B1 tối đa của EU; đây là lý do nhiều lô hàng bị trả về.
Safrole bị hạn chế trong mỹ phẩm theo Phụ lục II của Quy định Mỹ phẩm EU (trừ lượng vết từ tinh dầu tự nhiên) và trong IFRA; dầu nhục đậu khấu không có tiêu chuẩn IFRA riêng, lượng dùng bị giới hạn qua safrole và methyl eugenol trong dầu.
Nutmeg (Myristica fragrans) originates in the Banda islands of Maluku. The tree gives two spices: the seed is nutmeg and the red aril around it is mace. East Indian nutmeg oil is distilled from the seed, often from small or broken nuts below spice grade.
Indonesian nutmeg oil is mainly monoterpenes: sabinene 6 to 36%, alpha-pinene 13 to 23% and beta-pinene 8 to 15% in one multi-sample study. The phenylpropanoids myristicin, elemicin and safrole are present at lower but highly variable levels.
Nutmeg kernels readily grow mould when dried and stored in humid conditions. A 2025 study found 17% of samples from North Maluku above the EU maximum for aflatoxin B1, a main reason for rejected shipments.
Safrole is restricted in cosmetics under Annex II of the EU Cosmetics Regulation (except trace amounts from natural oils) and by IFRA; nutmeg oil has no IFRA Standard of its own and is limited through its safrole and methyl eugenol content.
Hương bài (Chrysopogon zizanioides) được trồng ở huyện Garut, Tây Java, từ năm 1918. Garut có khoảng 2.400 hecta và sản xuất khoảng 60 đến 75 tấn dầu mỗi năm, khoảng 90 phần trăm sản lượng cả nước. Dầu cất từ rễ đã rửa và phơi; rễ được đào khi cây khoảng 10 đến 12 tháng.
Dầu hương bài Java thường được mô tả là khói hơn dầu Haiti. Ngày 17 tháng 9 năm 2026, hồ sơ chỉ dẫn địa lý Minyak Akar Wangi Garut được trao cho chính quyền Garut; giấy chứng nhận chính thức còn chờ hoàn tất thủ tục.
Đào rễ để lấy dầu làm lộ đất dốc. Ở Garut, xói mòn trên đồi trồng hương bài là vấn đề được chính quyền địa phương theo dõi.
Vetiver (Chrysopogon zizanioides) has been grown in Garut district, West Java, since 1918. Garut has about 2,400 hectares and produces about 60 to 75 tonnes of oil a year, around 90% of national output. The oil is distilled from washed and dried roots, dug when the plants are about 10 to 12 months old.
Java vetiver is often described as smokier than Haitian oil. On 17 September 2026 the geographical indication file for Minyak Akar Wangi Garut was handed to the Garut government; the formal certificate awaits final paperwork.
Digging roots for oil leaves sloping ground bare. In Garut, erosion on vetiver hillsides is monitored by the local government.
Sả Java (Cymbopogon winterianus) cho dầu citronella kiểu Java, giàu citronellal và geraniol. SNI 06-3953-1995 yêu cầu citronellal tối thiểu 35 phần trăm và tổng geraniol tối thiểu 85 phần trăm. Dầu kiểu Java là nguồn tự nhiên để tách citronellal, citronellol và geraniol cho ngành hương liệu. Lá được cắt quanh năm, nhiều lứa trong năm.
Cananga (Cananga odorata f. macrophylla) là dạng cây của ngọc lan tây trồng chủ yếu ở Java. Dầu cất từ hoa, hiệu suất khoảng 1 phần trăm. Thành phần giống ngọc lan tây loại III nhưng nhiều beta-caryophyllene hơn, và ít ester hơn. Cananga được dùng nhiều trong xà phòng và hương liệu giá phổ thông.
Tổng geraniol trong tiêu chuẩn sả Java là cách tính gộp các alcohol và ester, không phải hàm lượng geraniol tự do.
Java citronella (Cymbopogon winterianus) gives Java-type citronella oil, rich in citronellal and geraniol. SNI 06-3953-1995 requires at least 35% citronellal and at least 85% total geraniol. Java-type oil is a natural source for isolating citronellal, citronellol and geraniol for the aroma industry. Leaves are cut all year, several times a year.
Cananga (Cananga odorata f. macrophylla) is the form of the ylang ylang tree grown mainly on Java. The oil is distilled from the flowers at about 1% yield. Its composition resembles ylang ylang III but with more beta-caryophyllene and fewer esters. Cananga is widely used in soap and mid-priced fragrance.
Total geraniol in the Java citronella standard is a combined measure of alcohols and esters, not free geraniol alone.
| Cây Plant | Tên khoa học Botanical | Vùng Area | Mùa Season | Phần dùng Part | Hoạt chất Marker |
|---|---|---|---|---|---|
| Hoắc hương Patchouli | Pogostemon cablin | Đông Nam Sulawesi (Kolaka), Aceh | Quanh năm, cắt lứa đầu sau ~6 tháng | Lá khô | patchouli alcohol ≥30% (SNI) |
| Đinh hương Clove | Syzygium aromaticum | Sulawesi, Maluku | Tháng 6–9, vụ phụ tùy đảo | Nụ; lá | eugenol (dầu lá) |
| Nhục đậu khấu Nutmeg | Myristica fragrans | Maluku (Banda), Bắc Sulawesi | Nhiều đợt trong năm | Hạt | sabinene 6–36%, alpha-pinene 13–23% |
| Hương bài Vetiver | Chrysopogon zizanioides | Garut, Tây Java | Đào rễ sau 10–12 tháng | Rễ | khusimol, vetiverol |
| Sả Java Java citronella | Cymbopogon winterianus | Java | Quanh năm | Lá | citronellal ≥35%, tổng geraniol ≥85% |
| Cananga Cananga | Cananga odorata f. macrophylla | Java | Quanh năm | Hoa | beta-caryophyllene cao |
| Hoắc hương · Patchouli | Patchouli alcohol, dầu càng để càng tròn |
| Đinh hương · Clove bud · Clove leaf · Clove stem | So sánh dầu lá Indonesia và Madagascar |
| Nhục đậu khấu và mace · Nutmeg east indian · Nutmeg west indian · Mace | East Indian so với West Indian |
| Hương bài · Vetiver | Java so với Haiti |
| Sả Java và sả chanh · Citronella · Lemongrass | Citronellal/geraniol so với citral |
| Cananga và ngọc lan tây · Cananga · Ylang ylang | Cùng loài, khác dạng cây |
| Hoạt chất · Eugenol · Sabinene · Myristicin · Safrole · Citronellal beta · Geraniol · Caryophyllene beta | Eugenol · sabinene · myristicin · safrole · citronellal · geraniol · caryophyllene |
Cập nhật 09/2026. Số liệu lấy theo năm ghi trong nguồn.
↑ Mục lục · Top