Một dự án của Lê Mai A Lê Mai project · go to lemai.com.vn

Tinh dầu Việt Nam

Essential oils of Vietnam

Việt Nam trồng hai loại cây hương ở quy mô thế giới: quế và hồi. Năm 2023, quế Việt Nam đứng đầu thế giới về giá trị xuất khẩu. Hồi đứng thứ hai về sản lượng, sau Trung Quốc. Bên cạnh đó là tràm, sả, màng tang, húng và bạc hà, cùng hai loại gỗ thơm hiếm đang được bảo vệ: trầm hương và pơ mu.

Phần lớn các cây này mọc ở vùng núi phía bắc và dải rừng ven biển miền Trung. Tinh dầu thường được cất từ phần phụ của cây: cành và lá quế sau khi bóc vỏ, quả hồi, lá tràm, quả màng tang.

Tên tỉnh trên trang này theo địa giới sau đợt sáp nhập tháng 7 năm 2025. Tên cũ được giữ trong ngoặc khi nguồn tài liệu dùng tên cũ, ví dụ Văn Yên (Yên Bái cũ, nay thuộc Lào Cai).

Vietnam grows two aromatic crops at world scale: cassia and star anise. In 2023 Vietnamese cassia led the world by export value. Star anise ranks second by output, after China. Alongside them come cajuput, lemongrass, may chang, basil and mint, and two rare aromatic woods now under protection: agarwood and pơ mu.

Most of these plants grow in the northern mountains and the central coastal forests. Oil is usually distilled from the parts left after the main harvest: cassia twigs and leaves once the bark is peeled, star anise fruit, cajuput leaves, may chang fruit.

Province names on this page follow the boundaries set by the July 2025 mergers. Former names are kept in brackets where sources use them, for example Văn Yên (formerly Yên Bái, now Lào Cai).


Dữ kiện nhanh / At a glance
Quế xuất khẩu 2025 Cassia exports120.295 tấn · 300,2 triệu USD
Hồi xuất khẩu 2025 Star anise exports14.307 tấn · 58,7 triệu USD
Diện tích quế Cassia area~143.000 ha ở Lào Cai, khoảng 75% cả nước
Diện tích hồi Star anise area~55.000 ha cả nước; Lạng Sơn 43.370 ha
Chỉ dẫn địa lý GIsHồi Lạng Sơn · Quế Văn Yên · Quế Trà My · Quế Thường Xuân · Quế Trà Bồng · Tinh dầu tràm Huế
Loài được bảo vệ ProtectedTrầm hương (CITES Phụ lục II) · Pơ mu (nhóm IIA)

01Quế/Cassia and cinnamon

Quế trồng ở Việt Nam chủ yếu là quế cassia, Cinnamomum cassia (danh pháp được chấp nhận hiện nay là C. aromaticum). Đây là loài khác với quế Ceylon (C. verum) của Sri Lanka. Quế cassia có vỏ dày hơn, mùi đậm và cay hơn.

Vùng quế lớn nhất nằm ở Lào Cai sau sáp nhập, gồm cả Văn Yên (Yên Bái cũ). Tỉnh có khoảng 143.000 hecta, chiếm gần ba phần tư diện tích quế cả nước; mỗi năm thu 40.000 đến 45.000 tấn vỏ khô và hơn 200.000 tấn cành lá. Vỏ được bóc hai đợt, tháng 2 đến 3 và tháng 8 đến 9 âm lịch; vỏ vụ thu nhiều dầu hơn.

Tinh dầu quế cassia chủ yếu được cất từ cành nhỏ và lá, phần còn lại sau khi bóc vỏ. Mẫu dầu lá ở Yên Bái cho khoảng 90% trans-cinnamaldehyde; dầu vỏ khoảng 93%. Chỉ dẫn địa lý Văn Yên ghi vỏ quế chứa 4,38 đến 6,07% tinh dầu.

Quế Trà My (Quảng Nam cũ, nay thuộc Đà Nẵng) là một giống bản địa, địa phương gọi là "cao sơn ngọc quế". Vỏ thân chứa 8,93 đến 10,91% tinh dầu, gần gấp đôi quế Văn Yên. Loài của quế Trà My chưa thống nhất: một số tài liệu xếp vào C. loureiroi, loài được bán quốc tế dưới tên "Saigon cinnamon"; hồ sơ chỉ dẫn địa lý chỉ ghi chi Cinnamomum.

Vietnamese cassia is mainly Cinnamomum cassia (currently accepted as C. aromaticum). It is a different species from Ceylon cinnamon (C. verum) of Sri Lanka, with thicker bark and a heavier, hotter scent.

The largest cassia area lies in the enlarged Lào Cai province, which now includes Văn Yên (formerly Yên Bái). It holds about 143,000 hectares, nearly three quarters of the national area, yielding 40,000 to 45,000 tonnes of dried bark and over 200,000 tonnes of twigs and leaves each year. Bark is peeled in two rounds, lunar months 2 to 3 and 8 to 9; autumn bark carries more oil.

Cassia oil is mainly distilled from small branches and leaves, what remains after peeling. Yên Bái leaf oil tested at about 90% trans-cinnamaldehyde; bark oil at about 93%. The Văn Yên GI specifies 4.38 to 6.07% oil in the bark.

Trà My cassia (formerly Quảng Nam, now Đà Nẵng) is a local variety known as "cao sơn ngọc quế". Its trunk bark holds 8.93 to 10.91% oil, close to twice that of Văn Yên. Its species is unsettled: some sources place it in C. loureiroi, sold internationally as "Saigon cinnamon"; the GI file names only the genus Cinnamomum.

↑ Mục lục · Top

02Hồi/Star anise

Hồi (Illicium verum) cần khí hậu mát của vùng núi đá phía bắc. Lạng Sơn có 43.370 hecta, khoảng 70% diện tích cả nước, trong đó khoảng 28.000 hecta đang cho quả. Quảng Ninh có khoảng 8.600 hecta, Cao Bằng khoảng 4.500 hecta. Cả nước thu khoảng 22.000 tấn quả khô mỗi năm, đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc.

Cây ra hai vụ. Vụ chính, gọi là hồi mùa, chín vào khoảng tháng 8 đến tháng 9; quả to, cánh dày. Vụ phụ, hồi tứ quý, vào tháng 3 đến tháng 4.

Tinh dầu hồi được cất từ quả và lá. Mẫu Việt Nam cho 90% trans-anethole trong dầu quả, 87% trong dầu lá. Anethole là phân tử tạo vị ngọt mùi cam thảo, cũng là thành phần chính của dầu hồi Âu (Pimpinella anisum).

Hồi Nhật (Illicium anisatum) có độc, và khi đã phơi khô gần như không phân biệt được với hồi thật bằng mắt. Năm 2003, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cảnh báo về trà hồi sau khoảng 40 ca ngộ độc. Nguồn gốc rõ ràng là điều kiện đầu tiên khi mua quả hoặc tinh dầu hồi.

Star anise (Illicium verum) needs the cool climate of the northern limestone mountains. Lạng Sơn has 43,370 hectares, about 70% of the national area, of which about 28,000 hectares bear fruit. Quảng Ninh has about 8,600 hectares and Cao Bằng about 4,500. The country harvests around 22,000 tonnes of dried fruit a year, second in the world after China.

The tree gives two crops. The main crop, hồi mùa, ripens around August to September, with large, thick-petalled fruit. A smaller crop, hồi tứ quý, comes in March to April.

Star anise oil is distilled from fruit and leaves. Vietnamese samples gave 90% trans-anethole in fruit oil and 87% in leaf oil. Anethole is the molecule behind the sweet, liquorice scent, and also the main constituent of European aniseed oil (Pimpinella anisum).

Japanese star anise (Illicium anisatum) is toxic and, once dried, is almost impossible to tell apart from true star anise by eye. In 2003 the US FDA warned against star anise teas after about 40 poisonings. Clear provenance comes first when buying the fruit or oil.

↑ Mục lục · Top

03Tràm/Cajuput

Tràm gió (Melaleuca cajuputi) mọc tự nhiên trên đất cát và đất ngập nước, từ ven biển miền Trung xuống rừng U Minh; ở Vườn quốc gia U Minh Hạ, tràm phủ gần 89% diện tích.

Nghề cất dầu tràm tập trung ở Lộc Thủy, Phú Lộc, Huế. Năm 2020, tinh dầu tràm Huế được bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Lá được cắt chủ yếu từ tháng 3 đến tháng 8, mùa khô, khi hàm lượng cineole cao hơn. Dầu tràm Huế chứa 40 đến 60% 1,8-cineole; Dược điển Việt Nam yêu cầu từ 45 đến 60%.

1,8-cineole cũng là thành phần chính của dầu bạch đàn. Hai loại dầu cùng mùi mát, nhưng dầu tràm có thêm các alcohol và sesquiterpene làm mùi tròn và ấm hơn.

Cajuput (Melaleuca cajuputi) grows wild on sandy and waterlogged soils, from the central coast down to the U Minh forests; in U Minh Hạ National Park it covers almost 89% of the area.

Cajuput distilling centres on Lộc Thủy, Phú Lộc, in Huế. In 2020 Huế cajuput oil received a geographical indication. Leaves are cut mainly from March to August, the dry season, when cineole runs higher. Huế cajuput oil contains 40 to 60% 1,8-cineole; the Vietnamese Pharmacopoeia requires 45 to 60%.

1,8-cineole is also the main constituent of eucalyptus oil. Both share a cool scent, but cajuput carries extra alcohols and sesquiterpenes that make it rounder and warmer.

↑ Mục lục · Top

04Sả và màng tang/Lemongrass, citronella, may chang

Ba cây này cùng mang mùi chanh, nhưng khác nhau về phân tử.

Sả chanh (Cymbopogon citratus) trồng khắp nơi. Mẫu dầu từ nhiều vùng cho 61 đến 76% citral, dầu lá cao hơn dầu thân.

Sả Java (Cymbopogon winterianus) trồng để lấy dầu citronella, tập trung ở Lâm Hà, Lâm Đồng. Mùi của nó đến từ geraniol, citronellal và citronellol, không phải citral, nên thiên về hoa và cỏ hơn là chanh.

Màng tang (Litsea cubeba) mọc hoang và được trồng ở vùng núi phía bắc: Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Dầu cất từ quả, thành phần chính cũng là citral. Trên thị trường quốc tế, dầu này được gọi là May Chang.

All three smell of lemon, but the molecules differ.

Lemongrass (Cymbopogon citratus) is grown everywhere. Oils from several regions gave 61 to 76% citral, higher in leaf than stem.

Java citronella (Cymbopogon winterianus) is grown for citronella oil, mainly in Lâm Hà, Lâm Đồng. Its scent comes from geraniol, citronellal and citronellol rather than citral, so it leans floral and grassy rather than lemony.

May chang (Litsea cubeba) grows wild and cultivated in the northern mountains: Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên. The oil is distilled from the fruit, and its main constituent is also citral.

↑ Mục lục · Top

05Trầm hương và pơ mu/Agarwood and pơ mu

Trầm hương không phải gỗ của cây dó, mà là phần nhựa cây tiết ra khi thân bị thương hoặc nhiễm nấm. Việt Nam có năm loài Aquilaria, trong đó dó bầu (A. crassna) được IUCN xếp mức cực kỳ nguy cấp. Tất cả các loài Aquilaria nằm trong Phụ lục II của CITES từ năm 2004, nên việc buôn bán quốc tế cần giấy phép.

Trầm hương hiện nay chủ yếu đến từ vườn trồng, tạo trầm bằng cách khoan và cấy chế phẩm vào thân. Hương Khê, Hà Tĩnh có hơn 800 hecta dó trồng từ khoảng năm 2000. Năm 2025, tri thức khai thác và chế biến trầm hương ở Khánh Hòa được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Dầu oud được cất từ gỗ đã có trầm, với hiệu suất rất thấp.

Pơ mu (Fokienia hodginsii) là cây lá kim của vùng núi cao, IUCN xếp mức sắp nguy cấp. Ở Việt Nam, pơ mu thuộc nhóm IIA, bị hạn chế khai thác và buôn bán. Dầu pơ mu gần như toàn sesquiterpene, chủ yếu là nerolidol (khoảng 35%) và fokienol (khoảng 26%), cho mùi gỗ khô và ấm. Dầu thường được cất từ rễ và gốc còn lại, không phải từ thân cây sống.

Agarwood is not the wood of the tree itself but the resin the tree forms when its trunk is wounded or infected by fungi. Vietnam has five Aquilaria species, of which A. crassna is listed by IUCN as critically endangered. All Aquilaria species have been in CITES Appendix II since 2004, so international trade requires permits.

Most agarwood today comes from plantations, where resin is induced by drilling and inoculating the trunk. Hương Khê, Hà Tĩnh, has over 800 hectares planted since around 2000. In 2025 the folk knowledge of agarwood harvesting and processing in Khánh Hòa was added to the national intangible cultural heritage list. Oud oil is distilled from resinated wood at very low yields.

Pơ mu (Fokienia hodginsii) is a high mountain conifer listed by IUCN as vulnerable. In Vietnam it sits in group IIA, which restricts logging and trade. Its oil is almost entirely sesquiterpenes, mainly nerolidol (about 35%) and fokienol (about 26%), with a dry, warm woody scent. The oil is usually distilled from roots and stumps left in the ground rather than from living trunks.

↑ Mục lục · Top

06Húng, hương nhu, bạc hà/Basil and mint

Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum) cho dầu giàu eugenol, 58 đến 70% ở mẫu Việt Nam; mùi gần đinh hương. Hương nhu tía (O. tenuiflorum), loài được gọi là tulsi ở Ấn Độ, cho dầu có beta-caryophyllene và eugenol thay đổi mạnh theo nơi trồng.

Bạc hà (Mentha arvensis) được trồng thử ở miền Bắc từ năm 1958 bằng giống lai số 272. Dầu bạc hà Việt Nam chứa khoảng 68 đến 71% menthol, cao nhất ở mẫu Lâm Đồng.

African basil (Ocimum gratissimum) gives an oil rich in eugenol, 58 to 70% in Vietnamese samples, close to clove in scent. Holy basil (O. tenuiflorum), tulsi in India, gives an oil whose beta-caryophyllene and eugenol vary widely with growing area.

Cornmint (Mentha arvensis) was trialled in the north from 1958 using hybrid line 272. Vietnamese cornmint oil contains about 68 to 71% menthol, highest in the Lâm Đồng sample.

↑ Mục lục · Top

07Lịch mùa vụ/Harvest calendar

Mùa thu hoạch nguyên liệu tinh dầu ở Việt Nam / Harvest seasons in Vietnam
Cây PlantVùng chính Main areaMùa SeasonPhần cất dầu PartHoạt chất chính Marker
Quế cassiaLào Cai (Văn Yên)Tháng 2–3, 8–9 âm lịchCành, lá; vỏcinnamaldehyde ~90%
HồiLạng Sơn, Quảng Ninh, Cao BằngTháng 8–9 (vụ chính); 3–4Quả, láanethole 87–90%
Tràm gióHuếTháng 3–8Lá1,8-cineole 40–60%
Sả chanhCả nướcQuanh nămLá, thâncitral 61–76%
Sả JavaLâm ĐồngQuanh nămLágeraniol, citronellal
Màng tangNúi phía bắcMùa quảQuảcitral
Hương nhu trắngCả nướcQuanh nămLá, ngọneugenol 58–70%
Bạc hàLâm Đồng, phía bắcTheo lứa cắtToàn câymenthol 68–71%

Tháng thu hoạch khác nhau theo năm và theo vùng, lệch khoảng một tháng giữa các nguồn.

↑ Mục lục · Top

08Chỉ dẫn địa lý/Geographical indications

Chỉ dẫn địa lý do Cục Sở hữu trí tuệ cấp, xác nhận một sản phẩm có đặc tính gắn với vùng đất. Với cây hương, hồ sơ thường ghi cả chỉ tiêu hàm lượng tinh dầu và hoạt chất.

Geographical indications are granted by Vietnam's Intellectual Property Office, confirming that a product's qualities are tied to its place. For aromatic crops the file usually specifies oil content and key constituents.

Tên NameSố No.Năm YearChỉ tiêu Specification
Hồi Lạng Sơn000072007Quả hồi
Quế Văn Yên000182010Vỏ: tinh dầu 4,38–6,07%; cinnamaldehyde 84,9–90,1%
Quế Trà My000292011Vỏ thân: tinh dầu 8,93–10,91%
Quế Thường Xuân000512016Vỏ quế
Quế Trà Bồng000942020Vỏ quế
Tinh dầu tràm Huế0009620201,8-cineole 40–60%
↑ Mục lục · Top

09Trong thư viện/In the library

Quế Cassia · Quế Ceylon (vỏ)So sánh hai loài quế
Hoa hồiAnethole, lưu ý hồi Nhật
Tràm gióChỉ dẫn địa lý Huế
Sả chanh · Sả Java · Màng tangBa mùi chanh, ba phân tử
Trầm hươngCITES Phụ lục II
Hương nhu trắng · Hương nhu tíaEugenol
Bạc hà ruộng · Rau rămMenthol; aldehyde mạch dài
Cinnamaldehyde · Anethole · 1,8-cineoleHoạt chất chính
↑ Mục lục · Top

10Nguồn/Sources

  1. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, hồ sơ chỉ dẫn địa lý số 00007, 00018, 00029, 00051, 00094, 00096. ipvietnam.gov.vn
  2. Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam, qua Tạp chí Thuế và Hải quan (1/2026): xuất khẩu quế 2025.
  3. UN Comtrade, HS 0906 và HS 3301, năm 2023.
  4. Báo Lào Cai (7/2025), Nhân Dân (2023, 2025), Công Thương (2024), Dân trí DTiNews (6/2026): diện tích và sản lượng quế, hồi.
  5. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam: kỹ thuật khai thác vỏ quế.
  6. Dược điển Việt Nam IV, chuyên luận Tinh dầu tràm.
  7. Trinh et al. 2015; Dumas et al. 2021; Do et al. 2024 (quế). Le et al. 2021 (hồi). Trang et al. 2020 (sả chanh). Weyerstahl et al. 1999 (pơ mu). Chu et al. 2025; Le et al. 2024 (húng).
  8. IUCN Red List (Fokienia hodginsii, Aquilaria crassna); CITES Phụ lục II; Nghị định 06/2019 và 84/2021.
  9. FDA (2003), cảnh báo về trà hồi.
  10. WCVP / Plants of the World Online: danh pháp thực vật.

Cập nhật 09/2026. Số liệu lấy theo năm ghi trong nguồn.