Madagascar là nguồn lớn nhất thế giới của hai nguyên liệu hương: vani và dầu lá đinh hương. Theo số liệu FAO giai đoạn 2018 đến 2023, đảo này chiếm khoảng 42 phần trăm sản lượng vani thế giới. Đinh hương là mặt hàng nông sản xuất khẩu thứ hai sau vani.
Phần lớn cây hương mọc ở dải bờ biển phía đông và phía bắc, nơi mưa nhiều quanh năm. Vani tập trung ở vùng Sava phía đông bắc, đinh hương ở vùng Analanjirofo, ngọc lan tây ở đảo Nosy Be và vùng Ambanja. Cao nguyên trung tâm cho ravintsara, một kiểu hóa học của cây long não giàu 1,8-cineole.
Một đặc điểm chung của nhiều nguồn Madagascar là quy mô nông hộ nhỏ và cất dầu bằng nồi đun củi tại chỗ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến rừng, đến giá và đến độ đồng đều của lô dầu.
Madagascar is the world's largest source of two aromatic materials: vanilla and clove leaf oil. On FAO figures for 2018 to 2023 the island supplied about 42% of world vanilla output. Clove is its second agricultural export after vanilla.
Most aromatic crops grow along the wet eastern and northern coasts. Vanilla is concentrated in the Sava region in the north east, clove in Analanjirofo, ylang ylang on Nosy Be island and around Ambanja. The central highlands supply ravintsara, a chemotype of the camphor tree rich in 1,8-cineole.
Much of Madagascar's output comes from smallholders who distil on site in wood-fired stills. This shapes forest cover, prices and the consistency of each lot.
| Vani, tỷ trọng thế giới Vanilla, world share | ~42% (FAO, trung bình 2018–2023) |
| Giá sàn xuất khẩu vani Vanilla export floor | 250 USD/kg, bãi bỏ tháng 5/2023 |
| Diện tích đinh hương Clove area | ~80.000 ha, ~30.000 nông hộ |
| Dầu lá đinh hương Clove leaf oil | eugenol trên 80% |
| Vùng chính Main regions | Sava · Analanjirofo · Nosy Be · cao nguyên trung tâm |
| Chứng nhận Standards | ISO 5565 (vani); nhãn Bourbon dùng chung với Réunion, Comoros |
Vani trồng ở Madagascar là Vanilla planifolia, loài lan leo gốc Mexico. Ở đây không có loài ong thụ phấn tự nhiên, nên mỗi hoa được thụ phấn bằng tay trong ngày hoa nở. Khoảng 80 phần trăm vani Madagascar đến từ vùng Sava, chủ yếu từ nông hộ nhỏ.
Quả vani xanh không có mùi vani. Mùi hình thành trong quá trình ủ kéo dài nhiều tháng: chần nước nóng, ủ kín, phơi và làm khô chậm. Trong quá trình này glucovanillin bị thủy phân thành vanillin. Vanillin là hợp chất thơm đơn lẻ chính của quả đã ủ, nhưng mùi vani tự nhiên đến từ hàng trăm hợp chất khác cùng lúc.
Ngày mở vụ thu vani xanh do chính phủ ấn định mỗi năm để hạn chế hái non và trộm quả. Vụ 2024 đến 2025 ở Sava bắt đầu vào cuối tháng 6. Tháng 5 năm 2023, Madagascar bãi bỏ giá sàn xuất khẩu 250 USD mỗi kg. Giá sau đó giảm mạnh; một số loại thấp xuống dưới 20 USD mỗi kg. Tháng 6 năm 2026, chính phủ đặt lại giá sàn thu mua tại vườn ở mức thấp hơn.
Trong mỹ phẩm và nước hoa, vani dùng dưới dạng tincture, absolute, oleoresin hoặc CO2. Vani không có tinh dầu cất hơi nước theo nghĩa thông thường.
Vanillin tổng hợp và vanillin từ eugenol, lignin rẻ hơn vani tự nhiên nhiều lần. Phân biệt nguồn gốc cần phân tích đồng vị carbon, không dựa được vào mùi.
Madagascar grows Vanilla planifolia, a climbing orchid native to Mexico. The island has no natural pollinator for it, so each flower is pollinated by hand on the day it opens. About 80% of Malagasy vanilla comes from the Sava region, mostly from smallholders.
Green vanilla pods have no vanilla scent. The aroma forms during several months of curing: scalding, sweating, sun drying and slow conditioning. In this process glucovanillin is hydrolysed into vanillin. Vanillin is the main single aroma compound of cured pods, but the scent of natural vanilla comes from hundreds of other compounds at once.
The government sets the opening date of the green vanilla harvest each year to limit early picking and theft. The 2024 to 2025 season in Sava opened at the end of June. In May 2023 Madagascar removed its 250 USD per kg export price floor. Prices then fell sharply, with some grades below 20 USD per kg. In June 2026 the government reinstated a lower farmgate minimum.
In cosmetics and perfumery vanilla is used as a tincture, absolute, oleoresin or CO2 extract. It has no steam-distilled essential oil in the usual sense.
Synthetic vanillin and vanillin made from eugenol or lignin cost far less than natural vanilla. Telling them apart requires carbon isotope analysis; scent alone is not enough.
Đinh hương (Syzygium aromaticum) được trồng dọc bờ biển phía đông, tập trung ở vùng Analanjirofo, tên tiếng Malagasy nghĩa là rừng đinh hương. Khoảng 90 phần trăm sản lượng nằm ở ba huyện Mananara, Soanierana Ivongo và Fénérive Est. Diện tích khoảng 80.000 hecta, là nguồn thu chính của khoảng 30.000 nông hộ. Madagascar đứng thứ hai về sản lượng nụ đinh hương sau Indonesia, nhưng xuất khẩu nhiều hơn vì Indonesia dùng phần lớn cho thuốc lá kretek trong nước.
Nụ được hái khoảng từ tháng 10 đến tháng 3. Ngoài mùa nụ, nông hộ cắt lá và cành rụng để cất dầu lá. Dầu lá Madagascar chứa trên 80 phần trăm eugenol, cao hơn dầu lá Indonesia. Một phần lớn dầu lá được tinh chế tiếp thành eugenol tự nhiên trên 99 phần trăm, nguyên liệu cho vanillin tự nhiên và hương liệu.
Nồi cất dầu lá ở nông thôn đốt bằng củi. Nghiên cứu năm 2024 trên Forest Policy and Economics cho rằng ngành đinh hương cần thêm biện pháp để không góp phần làm mất rừng. Một số chương trình của các nhà hương liệu đang trồng cây lấy củi và thử nồi cất tiết kiệm nhiên liệu ở Analanjirofo.
Dầu nụ, dầu cành và dầu lá đinh hương khác nhau về eugenyl acetate và caryophyllene. Nhãn cần ghi rõ bộ phận cất.
Clove (Syzygium aromaticum) is grown along the east coast, mainly in the Analanjirofo region, whose Malagasy name means clove forest. About 90% of output comes from three districts: Mananara, Soanierana Ivongo and Fénérive Est. The crop covers some 80,000 hectares and is the main income of about 30,000 farm households. Madagascar ranks second in clove bud output after Indonesia but exports more, since Indonesia uses most of its crop for kretek cigarettes at home.
Buds are picked roughly from October to March. Outside the bud season, farmers cut leaves and collect fallen twigs to distil leaf oil. Malagasy clove leaf oil holds over 80% eugenol, higher than Indonesian leaf oil. Much of it is further refined into natural eugenol above 99%, a starting material for natural vanillin and flavours.
Rural leaf oil stills are fired with wood. A 2024 study in Forest Policy and Economics concluded that the clove sector needs additional measures to avoid contributing to tree cover loss. Programmes run by fragrance companies now plant firewood trees and trial fuel-efficient stills in Analanjirofo.
Clove bud, stem and leaf oils differ in eugenyl acetate and caryophyllene. Labels should state which part was distilled.
Ravintsara là tên Malagasy của cây long não Cinnamomum camphora trồng ở Madagascar. Cây gốc Đông Á, được đưa vào đảo và phát triển thành một kiểu hóa học riêng: dầu lá giàu 1,8-cineole, thường hơn một nửa lượng dầu, gần như không có camphor. Ở Trung Quốc, cùng loài này cho dầu giàu camphor hoặc linalool.
Dầu được cất từ lá, chủ yếu ở cao nguyên trung tâm. Cần khoảng 90 đến 125 kg lá cho một lít dầu. Nhiều người cất là thợ tự do, mua lá từ người hái cũng tự do, để kịp đơn hàng xuất khẩu.
Ravensara (Ravensara aromatica, nay thường xếp vào chi Cryptocarya) là một loài bản địa khác cùng họ Lauraceae. Dầu vỏ và dầu lá của nó khác hẳn ravintsara, với estragole hoặc methyleugenol cao ở một số mẫu. Hai tên gần giống nhau này bị nhầm lẫn trên thị trường trong nhiều năm.
Khi mua, tên Latin và kiểu hóa học (ct. 1,8-cineole) quan trọng hơn tên thương mại.
Ravintsara is the Malagasy name for the camphor tree, Cinnamomum camphora, as grown in Madagascar. Native to East Asia, it was introduced to the island and settled into a distinct chemotype: its leaf oil is rich in 1,8-cineole, often more than half the oil, with almost no camphor. In China the same species gives oils rich in camphor or linalool.
The oil is distilled from leaves, mainly in the central highlands. About 90 to 125 kg of leaves give one litre of oil. Many distillers work informally, buying leaves from equally informal collectors to meet export orders.
Ravensara (Ravensara aromatica, now often placed in Cryptocarya) is a different native species of the same family, Lauraceae. Its bark and leaf oils are quite unlike ravintsara, with high estragole or methyleugenol in some samples. The two similar names were confused in trade for many years.
When buying, the Latin name and chemotype (ct. 1,8-cineole) matter more than the trade name.
Ngọc lan tây (Cananga odorata f. genuina) được trồng ở đảo Nosy Be và vùng Ambanja đối diện trên đảo lớn. Nguồn lớn nhất vẫn là quần đảo Comoros, đặc biệt đảo Anjouan. Theo Biolandes, thế giới sản xuất khoảng 100 tấn dầu ngọc lan tây mỗi năm, trong đó Madagascar khoảng 20 tấn.
Hoa được hái vào sáng sớm và cất ngay trong ngày. Quá trình cất kéo dài nhiều giờ và được chia thành các phân đoạn: extra, I, II, III, hoặc lấy cả mẻ thành dầu complete. Phân đoạn đầu giàu ester và p-cresyl methyl ether; phân đoạn sau giàu sesquiterpene.
Xem thêm trang Comoros và Réunion về các phân đoạn ngọc lan tây.
Ylang ylang (Cananga odorata f. genuina) is grown on Nosy Be island and around Ambanja on the facing mainland. The largest source remains the Comoros, especially Anjouan. According to Biolandes, world output is about 100 tonnes of oil a year, of which Madagascar supplies around 20 tonnes.
Flowers are picked early in the morning and distilled the same day. Distillation runs for many hours and is split into fractions: extra, I, II and III, or taken as a single complete oil. Early fractions are rich in esters and p-cresyl methyl ether; later ones in sesquiterpenes.
See the Comoros and Réunion page for more on ylang ylang fractions.
Voatsiperifery là một loài tiêu leo mọc hoang trong rừng tự nhiên phía đông, từ bờ biển lên cao nguyên. Theo CIRAD năm 2024, loài này vẫn chưa có tên khoa học được công nhận hợp lệ. Quả mọc rất cao trên tán rừng; cách hái dễ nhất là giật đổ dây hoặc chặt cây chủ, gây hại cho rừng. Từ khoảng năm 2010, CIRAD và FOFIFA nghiên cứu nhân giống bằng giâm cành và hạt để chuyển sang trồng.
Madagascar còn cho tiêu đen (Piper nigrum), tiêu hồng (Schinus terebinthifolia) và nhiều cây bản địa được cất dầu ở quy mô nhỏ, như katrafay (Cedrelopsis grevei) ở phía nam và tây nam. Với các loài chỉ khai thác từ tự nhiên, nguồn gốc lô hàng và cách thu hái là thông tin cần hỏi đầu tiên.
Voatsiperifery is a climbing pepper that grows wild in the eastern natural forests, from the coast up to the highlands. According to CIRAD in 2024 it still has no validly published scientific name. The fruit sets high in the canopy; the easiest way to harvest is to pull down the vine or fell the host tree, which damages the forest. Since around 2010 CIRAD and FOFIFA have worked on propagation from cuttings and seed to move it into cultivation.
Madagascar also produces black pepper (Piper nigrum), pink pepper (Schinus terebinthifolia) and a number of native plants distilled on a small scale, such as katrafay (Cedrelopsis grevei) in the south and south west. For species taken only from the wild, the origin of the lot and the harvesting method are the first questions to ask.
| Cây Plant | Tên khoa học Botanical | Vùng Area | Mùa Season | Phần dùng Part | Hoạt chất Marker |
|---|---|---|---|---|---|
| Vani Vanilla | Vanilla planifolia | Sava (Sambava, Antalaha, Andapa, Vohémar) | Mở vụ quả xanh theo quyết định hằng năm, thường cuối tháng 6 đến tháng 7; ủ tiếp nhiều tháng | Quả (ủ) | vanillin |
| Đinh hương (nụ) Clove bud | Syzygium aromaticum | Analanjirofo (Mananara, Soanierana Ivongo, Fénérive Est) | Tháng 10–3 | Nụ | eugenol |
| Đinh hương (lá) Clove leaf | Syzygium aromaticum | Analanjirofo | Quanh năm, nhiều hơn ngoài mùa nụ | Lá, cành rụng | eugenol >80% |
| Ravintsara Ravintsara | Cinnamomum camphora (ct. 1,8-cineole) | Cao nguyên trung tâm | Quanh năm | Lá | 1,8-cineole |
| Ngọc lan tây Ylang ylang | Cananga odorata f. genuina | Nosy Be, Ambanja | Quanh năm, có tháng cao điểm | Hoa | linalool, p-cresyl methyl ether, germacrene D |
| Voatsiperifery Voatsiperifery | Piper sp. (chưa có tên hợp lệ) | Rừng phía đông | Chưa xác minh | Quả |
| Vani · Vanilla | Vanillin, các dạng chiết |
| Đinh hương: nụ, lá, cành · Clove bud · Clove leaf · Clove stem | Ba loại dầu, khác nhau về eugenyl acetate |
| Long não và ravintsara · Ho leaf cineole ct · Ho leaf camphor ct · Ho leaf linalool ct | Một loài, ba kiểu hóa học |
| Ravensara · Ravensara leaf · Ravensara bark | Loài khác, dễ nhầm với ravintsara |
| Ngọc lan tây và cananga · Ylang ylang · Cananga | Hai dạng của Cananga odorata |
| Katrafay, tiêu đen, tiêu hồng · Katrafay · Pepper black · Pepper pink | Nguồn bản địa và cây trồng |
| Eugenol · Vanillin · 1,8-cineole · Eugenol · Vanillin · Cineole 1 8 | Hoạt chất chính |
Cập nhật 09/2026. Số liệu lấy theo năm ghi trong nguồn.
↑ Mục lục · Top